Bệnh viêm khớp – cần làm gì ?

0
156

bệnh khớp thường hay gặp ở những người trên 50 tuổi biểu hiện bằng đau ở khớp khi gắng sức, khi thay đổi thời tiết từ nóng sang lạnh kèm theo sưng, cứng, đau, đỏ và nóng ở khớp. Thường gặp ở các khớp gối, háng và cột sống.

Khái niệm về bệnh viêm khớp:

Viêm khớp là bệnh lý mạn tính của khớp, ảnh hưởng đến gần 50% người từ 65 tuổi trở lên.

Triệu chứng chủ yếu là đau đầu và viêm ác khớp. Hậu quả là gây hạn chế cử động khớp.

Nguyên nhân gây viêm khớp có thể do chế độ ăn không hợp lí, chấn thương, gắng sức quá mức, tuổi cao…

dau-xuong-khop

Các dạng viêm khớp:

Viêm xương khớp hoặc thoái hóa khớp: bệnh khớp thường hay gặp ở những người trên 50 tuổi biểu hiện bằng đau ở khớp khi gắng sức, khi thay đổi thời tiết từ nóng sang lạnh kèm theo sưng, cứng, đau, đỏ và nóng ở khớp. Thường gặp ở các khớp gối, háng và cột sống.

Viêm khớp dạng thấp: dạng viêm khớp thường gặp nhất ảnh hưởng đến những người từ 20 – 50 tuổi, biểu hiện bằng đau nhức toàn thân hay cứng khớp, sưng, đau, nóng nhiều khớp và nóng sốt. Tình trạng này do hệ miễn dịch tấn công mô lót bên trong khớp. Thường gặp ở các khớp bàn tay và bàn chân.

Viêm khớp nhiễm trùng: đau và cứng ở một khớp kèm nóng đỏ mô xung quanh. Có thể kèm ớn lạnh, sốt, mệt mỏi và phát ban.

Viêm khớp do gout: do lắng đọng các tinh thể acid uric ở khớp gây đau dữ dội ở các khớp đơn độc, kèm khớp sưng và đỏ.

Những trường hợp viêm khớp khác gồm viêm khớp vẩy nến, hội chứng Reiter và viêm cứng cột sống.

Một số trường hợp khi điều trị nội khoa không đủ để kiểm soát bệnh, chuyên gia chỉnh hình phải phẫu thuật, thậm chí phải thay khớp để phục hồi vận động.

Viêm khớp – khi nào đi khám bác sĩ?

Khi người bệnh có các báo động như sau:

  • Có một hay nhiều khớp sưng hay viêm.
  • Bệnh nhân bị cứng khớp kéo dài vào sáng sớm.
  • Đau khớp hay tái đi tái lại.
  • Bệnh nhân không thể vận động khớp được bình thường.
  • Khớp nóng đỏ rõ rệt.
  • Ngoài đau khớp còn có thêm các triệu chứng khác như sốt không rõ nguyên nhân, sụt cân hoặc yếu sức.
  • Cứng khớp sau một thời gian dài ngồi hoặc nằm.

Lời khuyên của thầy thuốc, nhân viên bán thuốc.

  • Tập thể dục đều đặn. Không tập các động tác gây đau hay sưng khớp nhiều hơn.
  • Chườm nóng hay chườm lạnh có thể giúp giảm đau. Tắm nước nóng cũng có thể làm giảm đau do thư giãn các cơ.
  • Duy trì cân nặng bình thường.
  • Cần tránh để các khớp làm việc quá mức, nên ngồi làm việc đúng tư thế, khiêng vác đúng cách và nghỉ ngơi đầy đủ sau đó.
  • Theo một chế độ ăn cân bằng.
  • Trong bệnh thống phong, việc dùng thực phẩm giàu purine như rượu bia, cá mòi, cá trích, trứng cá, đồ lòng gia súc, nấm.v.v. gây ứ động acid uric ở khớp, là nguyên nhân gây cơn thống phong. Các trường hợp này, nên dùng một chế độ ăn thay thế ít purine.
  • Uống nhiều nước cũng giúp ngăn ngừa tạo lập các tinh thể acid uric ở khớp.

b-viem-khop

Những lưu ý khi điều trị

Điều trị triệu chứng cấp tính “sưng – nóng – đỏ – đau” bằng các thuốc chóng viêm bao gồm nhóm không chứa corticoid và nhóm corticold, trong đó corticoid được sử dụng sớm và ngắn ngày. Chỉ dùng liều tối thiểu có hiệu quả, không vượt liều tối đa. Các thuốc này sẽ được giảm dần liều và sau đó có thể cắt hẳn.

Tất cả các thuốc chống viêm ngoài tác dụng giảm đau, viêm khớp thì đều có tác động lên niêm mạc dạ dày, gây đau, loét và có thể gây chảy máu. Để tránh tác hại này nên uống thuốc sau khi ăn, chọn những thuốc đã dùng quen từ trước mà không thấy có phản ứng xấu đối với cơ thể. Nên dùng những thuốc có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày kèm theo với thuốc chống viêm (phosphalugel, gastropulgit, maalox, antacil, kaolin…). Không dùng phối hợp nhiều loại thuốc chống viêm cùng một lúc mà chỉ nên dùng một loại, vì không làm tăng hiệu quả mà còn làm tăng tác dụng phụ.

Trong thời gian sử dụng thuốc, cho dù tác dụng thuốc đến đâu cũng không tự động tăng liều thuốc (thí dụ mỗi ngày uống 1 viên mà đả thấy có tác dụng thì không tăng thêm 2 – 3viên…).

  • Nếu đang dùng thuốc mà thấy đau bụng, đầy bụng, khó tiêu, ợ chua, hoặc đi ngoài phân đen thì lập tức phải ngừng thuốc và báo cho thầy thuốc biết hoặc đi khám ngay ở cơ sở tế.
  • Kết hợp điều trị dài ngày có thể bằng các thuốc như:Glucosamin và chodroitin…

+ Thuốc kháng viêm không STEROID (NSAID)

Được dùng rộng rãi để làm giảm sưng đau ở các khớp bị viêm.

Thuốc viêm chỉ nên dùng để chữa những trường hợp có sưng đau ở khớp (có các biểu hiện viêm khớp cấp: sưng – nóng – đỏ – đau). Nếu chỉ có đau đớn đơn thuần thì nên dùng các thuốc giảm đau như paracetamol, không có tác dụng kháng viêm và thường ít tác dụng phụ…

Thuốc chống viêm thường có 3 dạng gồm: viên uống, ống tiêm, gel (kem) xoa ngoài: trong trường hợp viêm khớp nặng thì dùng thuốc tiêm, nhưng chỉ chuyển sang vài ngày rồi chuyển sang uống. Nếu chỉ viêm nhẹ và chỉ ở một vài khớp thì nên dùng thuốc bôi xoa ngoài như diclofenac, ketoprofen, piroxicam, các salicylates dùng tại chỗ như diethylamine salicylates, methyl calicylates và glycol salicylates (thường được kết hợp với menthol, eucalyptol hoặc camphor) được dùng để giảm sưng và đau tại chỗ.

Phối hợp thuốc, ví dụ như paracetamol với ibuprofen cho hiệu quả cộng hưởng giúp giảm đau nhanh hơn các khớp bị viêm.

+ Các thuốc CORTICOSTEROID

Ngoài tác dụng chữa bệnh khớp còn dùng chữa nhiều bệnh khác nữa.

Các thuốc corticoseroid như batamethasone, dexamethasone, methylprednisolone, prednisone và triacinolone có hiệu quả khi dùng ngắn hạn để điều trị viêm khớp và thường được sử dụng để điều trị đợt bùng phát khi nhiều khớp bị ảnh hưởng cùng lúc.

Những thuốc này thường không làm chậm tiến trình viêm khớp và gây ra nhiều tác dụng phụ ở hầu hết mọi cơ quan trong cơ thể. Các tác dụng phụ thường hay gặp như vết bám da, loãng xương, tăng huyết áp, tăng đường huyết, đục thủy tinh thể và mỏng da…

Vì những tác dụng phụ của loại thuốc này rất nguy hiểm nên việc sử dụng các thuốc có corticoseroid cần theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc, tuyệt đối không được lạm dụng thuốc.

Tiêm thuốc vào trong ổ khớp được dùng để chữa một số bệnh như: viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp ở mức độ nhẹ, viêm màng hoạt dịch khớp không do vi khuẩn. Các thuốc để tiêm vào trong ổ khớp là các thuốc corticoseroid (hydrocortisone acetat, betamethason, triamcinolo…) ở dạng dung dịch gel (đục như sữa) và rất lâu tan sau khi tiêm. Vì yếu tố làm tan này mà dễ gây nên nhiễm trùng mũ trong khớp. Mặc dù thuốc chỉ tiêm tại chỗ nhưng cũng có tác dụng toàn thân cho nên nếu như tiêm nhiều cũng rất dễ có những tai biến toàn thân như ở phần trên đã mô tả.

Để tránh các tác hại do tiêm thuốc vào ổ khớp thì cần tuân thủ  các điều sau:

  • Chỉ được tiêm trong bệnh viện trong phòng thủ thuật có khử khuẩn tốt.
  • Do thầy thuốc chuyên khoa nắm vững kĩ thuật tiến hành.
  • Không tiêm quá 3 lần trong 3 tháng.
  • Tuyệt đối không được tiêm khi nghi ngờ có nhiễm khuẩn trong khớp.

+ Thuốc dùng để trị bệnh khớp lâu dài

Tùy theo từng bệnh, ví dụ thuốc kháng sinh dùng để chữa bệnh nhiễm trùng khuẩn khớp, lao khớp; thuốc chống thoái hóa khớp; thuốc chữa bệnh gout; các thuốc y học cổ truyền dân tộc…

Glucosamine và chondroitin

Glucosamine và chondroitin được dùng trong điều trị các bệnh khớp, có tác dụng giảm đau và bảo tồn mô sụn. Sodium hyaluronate, một polysaccharide của sodium  glucuronate và nacetyl glucosamine được dùng trong điều trị viêm khớp gối.

Các thuốc trị bệnh gout

Colchicine có thể được dùng trong việc điều trị triệu chứng cơn gout cấp tính, đặc biệt khi bệnh nhân có chống chỉ định dùng NSAID.

Thuốc Y học cổ truyền

Thuốc điều trị của Y học cổ truyền có ưu điểm là hầu như không có tác dụng phụ không mong muốn khi phải sử dụng thuốc dài ngày để điều trị viêm khớp. Y học cổ truyền có các bài thuốc cổ phương như « Độc hoạt tang ký sinh », «Khang hoạt thắng thấp thang », v..v…trong đó bài thuốc được thịnh hành nhất là bài  « Độc hoạt tang ký sinh ».

Độc hoạt tang kí sinh là phương thuốc cổ truyền xuất xứ Thiên Kim, được giới Y học phương Đông đánh giá cao vầ hiệu quả điều trị. Bài thuốc đã được sử dụng nhiều đời nay để điều trị các bệnh thấp khớp mạn tính mà thành phần chính là các vị thuốc để trừ phong thấp.

Độc hoạt, Tang ký sinh, Tế tân, Quế chi, Tần giao, Phòng phong có tác dụng trừ phong thấp, giảm đau. Đẳng sâm, Bạch linh, Cam thảo là thuốc bổ khí. Xuyên khung, Đương qui, Sinh địa, Bạch dược có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết. Đỗ trọng, Ngưu tất, Tần giao có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt. Cách điều trị này được thực hiện dựa vào nguyên lý của Y học cổ truyền : « Trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự diệt ».

Sự phối hợp hoàn hảo các vị thuốc trong phương thuốc có tác dụng điều trị cả nguyên nhân sinh bệnh và những triệu chứng của bệnh phong thấp mạn tính.

Độc hoạt tang ký sinh được bào chế từ các vị thuốc có nguồn gốc từ thiên nhiên, có hiệu lực tốt mà không có những phản ứng phụ bất lợi.

Trong thực tế cho thấy điều trị bệnh viêm khớp là phải dùng nhiều loại thuốc kết hợp. Trong những đợt cấp tính có sưng – nóng – đỏ – đau dùng các thuốc tây để giúp chống viêm, giảm sưng đau các khớp, nhưng chỉ nên dùng ngắn ngày, thường dùng điều trị đợt bùng phát khi nhiều khớp bị ảnh hưởng cùng một lúc và không nên lạm dụng vì có thể gây nhiều tác dụng phụ bất lợi.

Sau khi đợt cấp tính dịu đi nên điều trị lâu dài bằng thuốc Y học cổ truyền. Độc hoạt tang ký sinh giúp bệnh thuyên giảm rõ nét, các triệu chứng về đau nhức về xương khớp sẽ giảm đi rõ rệt, nhiều trường hợp đã phát huy được tác dụng của thuốc trong thời gian dài, giúp cho bệnh nhân không bị tái phát các cơn sưng đau khớp cấp tính. Điều đó góp phần khống chế và kiểm soát bệnh tốt hơn. Đây cũng chính là xu hướng hiện nay trong việcđiều trị bệnh viêm khớp mạn tính – con người quay về sử dụng các sản phẩm của Y học cổ truyền có hiệu lực tốt mà lại hầu như không có tác dụng phụ bất lợi khi sử dụng dài ngày.

Blog Làm Mẹ

Để lại bình luận

Please enter your comment!
Please enter your name here